QUY TRÌNH VÀ YÊU CẦU CỤ THỂ KHI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI XIN CẤP BẰNG LÁI XE Ở VIỆT NAM

Người nước ngoài sống ở Việt Nam muốn tham gia giao thông thì cần phải có bằng lái xe do Việt Nam cấp. Tùy vào việc người nước ngoài chưa có hoặc đã có giấy phép lái xe quốc tế mà có thể chọn việc học và thi bằng lái xe hoặc làm thủ tục đổi sang bằng lái xe tương ứng của Việt Nam.

 

  1. Trường hợp người nước ngoài chưa có giấy phép lái xe

Tại Điều 7, Thông tư 12/2017/TT-BGTVT, được bổ sung bởi khoản 5 Điều 1 Thông tư 38/2019/TT-BGTVT, Bộ Giao thông và Vận tải đã có quy định rằng: Các đối tượng “là công dân Việt Nam, người nước ngoài được phép cư trú hoặc đang làm việc, học tập tại Việt Nam” thì được phép học và thi lái xe tại Việt Nam.

 

Bộ Hồ sơ đăng ký thi bằng lái xe của người nước ngoài cần đáp ứng quy định về hồ sơ của người học lái xe tại Điều 9, Thông tư 12/2017/TT-BGTVT. Bao gồm:

– Đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe theo mẫu quy định tại Phụ lục 7 ban hành kèm theo Thông tư này;

– Bản sao giấy chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu còn thời hạn có ghi số giấy chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân đối với người Việt Nam; hộ chiếu còn thời hạn đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài;

– Bản sao hộ chiếu còn thời hạn trên 06 tháng và thẻ tạm trú hoặc thẻ thường trú hoặc chứng minh thư ngoại giao hoặc chứng minh thư công vụ đối với người nước ngoài;

– Giấy khám sức khỏe của người lái xe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp theo quy định.

  1. Trường hợp người nước ngoài đã có giấy phép lái xe quốc gia

Khoản 10 Điều 33 Thông tư 12/2017/TT-BGTVT cũng có quy định như sau:

“10. Người nước ngoài hoặc người Việt Nam cư trú ở nước ngoài có nhu cầu lái xe ở Việt Nam thực hiện như sau:

  1. a) Nếu có giấy phép lái xe quốc gia phải làm thủ tục đổi sang giấy phép lái xe tương ứng của Việt Nam;
  2. b) Trường hợp điều ước quốc tế về giấy phép lái xe mà Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.”

Với trường hợp thứ hai thì cần chiếu theo quy định Công ước Viên. Tức là, để lái xe hợp lệ trên một đất nước khác, người lái cần phải xuất trình song song cả giấy phép lái xe quốc tế và giấy phép lái xe nội địa tương ứng.

 

Ngoài ra, Thông tư 29/2015/TT-BGTVT được ban hành bởi Bộ Giao thông Vận tải cũng có quy định rằng, người có bằng lái quốc tế khi lái xe trên lãnh thổ Việt Nam cần phải mang theo bằng lái quốc tế và bằng lái của quốc gia đó.

 

Như vậy, người nước ngoài khi lái xe tại Việt Nam cần đáp ứng 1 trong hai điều kiện sau:

– Đã hoàn tất chuyển đổi giấy phép lái xe quốc gia cấp sang giấy phép lái xe tương ứng của Việt Nam;

– Có cả hai bằng lái xe quốc tế và bằng lái xe do quốc gia mang quốc tịch cấp.

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *