Người vay tiền bỏ trốn là bên vay tiền thực hiện hành vi vay tiền của tổ chức, cá nhân khác nhưng đã gặp một số yếu tố tác động tới tình hình tài chính của bên chủ thể đi vay (như làm ăn thua lỗ, phá sản hoặc do người vay cố tình không trả) khiến cho bên có nghĩa vụ trả nợ mất khả năng thanh toán hoặc trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ với bên cho vay.

Về việc người vay tiền bỏ trốn có thể xảy ra 2 trường hợp và bị xử lý theo hai điều luật của pháp luật hình sự, cụ thể như sau:
Trường hợp 1:
Khi người vay tiền của bên cho vay bằng hình thức hợp đồng, sau đó cố tình bỏ trốn để không trả nợ. Tức là sau khi vay tiền của bên cho vay, bên vay tiền dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó thì sẽ có căn cứ để truy cứu hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cụ thể hơn, hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là khi bên vay vay, mượn tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng mà có các hành vi:
– Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.
– Đến thời hạn trả nợ mặc dù có khả năng, điều kiện để trả nhưng cố tình không trả.
– Sử dụng số tiền vay được vào mục đích bất hợp pháp hoặc không đúng mục đích vay, dẫn đến không thể trả nợ.
Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người vay tiền bỏ trốn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Tùy vào mức độ phạm tội mà hành vi này sẽ bị xử lý với khung hình phạt tù thấp nhất là 06 tháng và khung hình phạt cao nhất là 20 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Trường hợp 2:
Người vay tiền mà bỏ trốn không trả thì bị truy cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong trường hợp: Bên vay tiền dùng thủ đoạn gian dối để có được số tiền vay, chẳng hạn như là dùng lời nói hoặc hành động để lừa dối bên cho vay rồi sau khi có được tiền thì bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Tức là, ngay từ đầu khi vay tiền người này là đã có mục đích chiếm đoạt số tiền đó một cách bất hợp pháp.
Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người vay tiền bỏ trốn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tùy vào mức độ phạm tội mà hành vi này sẽ bị xử lý với khung hình phạt tù thấp nhất là 06 tháng và khung hình phạt tù cao nhất là tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Giấy tờ xác định con nợ bỏ trốn:
Theo quy định hiện hành, không cần giấy tờ gì để xác định người vay tiền đã bỏ trốn. Chỉ cần khi đến hạn trả nợ theo hợp đồng mà người vay tiền không trả nợ, đồng thời họ đã đi khỏi nơi cư trú trong một thời gian dài mà bạn không thể liên lạc hay biết thêm bất kỳ một thông tin của người vay tiền. Thì lúc đó, bạn có thể xác định là người vay tiền này đã bỏ trốn mà không cần giấy tờ gì. Tuy nhiên, để có căn cứ về việc bỏ trốn, thì chúng ta vẫn cần phải thực hiện việc cung cấp thông tin, bằng chứng cho cơ quan điều tra được biết.
Thời hiệu khởi kiện:
Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 thì Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tiền là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Do đó, thời hiệu khỏi kiện người vay tiền bỏ trốn là 03 năm.
Việc đòi nợ sai cách, quá thời hạn có thể dẫn tới những hậu quả khó lường, tùy vào tính chất, mức độ và hậu quả của mỗi hành vi mà người có hành vi trái quy định pháp luật có thể bị xử phạt hành chính, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, chủ nợ cần có kiến thức pháp luật để có thể đòi lại tiền đã cho vay một các hợp pháp.
Nếu đến thời hạn vay mà người vay không trả thì người cho vay có thể khởi kiện ra Tòa án nơi bị đơn – tức người vay tiền cư trú để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong trường hợp có căn cứ chứng minh có yếu tố hình sự như người vay cố tình không trả mặc dù có điều kiện, người vay đã sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản, hay người vay bỏ trốn…, bên cho vay có thể làm đơn tố giác tội phạm về hành vi của người vay có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 hoặc có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự.
