NGUYÊN TẮC PHÂN CHIA TÀI SẢN VÀ QUYỀN NUÔI CON KHI LY HÔN

Tài sản và quyền nuôi con là hai trong những tranh chấp phổ biến nhất khi tiết hành thủ tục ly hôn. Trong bài viết này chúng tôi chỉ phân tích những nguyên tắc căn bản nhất để phân định tranh chấp này. Trong mỗi vụ việc ly hôn luôn có những yếu tố riêng biệt để giải quyết, cụ thể:

 

Cách phân chia tài sản khi ly hôn

Nguyên tắc chung về việc phân định tài sản khi ly hôn:

– Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng về việc phân định tài sản chung, tài sản riêng. Tòa án chỉ phân định, giải quyết khi có yêu cầu của các bên tranh chấp trong đơn xin ly hôn.

Ví dụ: Chồng là doanh nhân thành đạt, là người tạo lập phần lớn tài sản còn vợ chỉ ở nhà lo công việc nội trợ, chăm sóc con cái. Phát sinh tranh chấp về tài sản yêu cầu tòa án phân chia theo luật định. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ việc nếu người chồng đồng ý để lại toàn bộ tài sản cho vợ thì tòa án cũng sẽ chấp thuận mà không (có quyền) can thiệp, phân định.

 

– Tài sản chung sẽ chia đôi sau khi trừ đi nghĩa vụ chung của vợ chồng có dựa trên công sức đóng góp của các bên trong quá trình hình thành tài sản chung.

Ví dụ: Hai vợ chồng có tài sản chung là một ngôi nhà chung cư, giá trị ước tính là 2 tỷ đồng, giả sử công sức đóng góp là như nhau,, nghĩa vụ trả nợ ngân hàng là: 1 tỷ đồng. Như vậy, dựa trên nguyên tắc này có thể hiểu là mỗi bên được hưởng 500 triệu đồng. Nếu ai muốn sở hữu riêng ngôi nhà này sau khi ly hôn sẽ phải hoàn trả cho người kia 500 triệu đồng.

 

– Tài sản riêng của ai thuộc sở hữu của người đó.

Việc chứng minh đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng sẽ là một câu chuyện pháp lý phải giải quyết vì quan hệ hôn nhân ở Việt Nam thường ít khi phân định rõ vấn đề này.

 

Phân định quyền nuôi con sau khi ly hôn

Về nguyên tắc chung: Tòa án tôn trọng sự thỏa thuận của các bên về việc phân định quyền nuôi con, chỉ giải quyết tranh chấp này khi có yêu cầu.

 

Tuy nhiên việc phân định quyền nuôi con có thể dựa trên 03 căn cứ pháp lý cơ bản theo quy định pháp luật:

(1) Điều kiện về kinh tế: Tòa án phải xem xét việc ai có thu nhập cao hơn, thu nhập ổn định hơn ? ai có tài sản tốt hơn ? … để đảm bảo cho các con có điều kiện vật chất tốt nhất có thể trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể.

Ví dụ: Người chồng là chủ doanh nghiệp đang trong tình trạng phá sản, nợ nần nhiều…, không tài sản, thu nhập âm, còn Người vợ là Công chức nhà nước có thu nhập ổn định, có nhà riêng thì rõ ràng người vợ chiếm ưu thế về điều kiện kinh tế hơn so với người chồng (góc nhìn theo nhận định chủ quan của thẩm phán). 

 

(2) Điều kiện về giáo dục: Tòa án phải xem xét ai có thời gian, trình độ và có lối sống phù hợp cho sự hình thành phát triển nhân cách của các con.

Ví dụ: Người chồng là kỹ sư xây dựng thường xuyên phải đi công tác xa nhà, người vợ là giáo viên thường xuyên ở nhà chăm sóc các con. Như vậy, người vợ có lợi thế hơn về điều kiện giáo dục các con (theo nhận định chủ quan của thẩm phán).

 

(3) Độ tuổi của các con: Theo quy định của luật, thì con dưới 12 tháng tuổi quyền nuôi thuộc về mẹ (do yếu tố sinh học, lúc này đứa trẻ phụ thuộc lớn vào người mẹ); con từ 12 đến dưới 36 tháng tuổi quyền nuôi ưu tiên thuộc về mẹ (trừ thỏa thuận khác); Con từ 3 đến dưới 7 tuổi quyền nuôi là ngang nhau và con trên 7 tuổi tòa án phải hỏi ý kiến của đứa trẻ xem cháu muốn ở với ai để làm căn cứ phân định.

Như vậy, nếu căn cứ vào 03 yếu tố phân định quyền nuôi con kể trên thì nếu một bên (vợ hoặc chồng) chiếm ưu thế thì thẩm phán có thể dựa vào đó để đưa ra phán quyết cuối cùng về phân định quyền nuôi con.

 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *